----------------------------------------------------------------------------------------------------
Email this to someone
email
Share on Facebook
Facebook
Tweet about this on Twitter
Twitter
Share on Reddit
Reddit

Trong bài viết https://giapha.org/bang-tinh-nam-am-lich-mang-ngu-hanh-cung-sanh-cung-phi-tu-nam-00012999/ đã có thông tin chuẩn từ năm Công nguyên thứ Nhất đến năm 2999. Tuy nhiên nếu bạn muốn tự tính nhẩm mà không cần phải xem bảng thì trong nội dung bài này, chúng tôi sẽ hướng dẫn bạn chi tiết.

CÁCH TÍNH THIÊN CAN – ĐỊA CHI (NĂM ÂM LỊCH)

Năm Âm lịch là sự kết hợp giữa Thiên Can – Địa Chi.

Thiên Can

Lấy số cuối (hàng đơn vị) của năm Dương lịch tham chiếu với bảng quy ước Thiên Can:

  • 0 – Canh
  • 1 – Tân
  • 2 – Nhâm
  • 3 – Quý
  • 4 – Giáp
  • 5 – Ất
  • 6 – Bính
  • 7 – Đinh
  • 8 – Mậu
  • 9 – Kỷ

Địa Chi

Lấy hai số cuối (hàng chục và đơn vị) của năm Dương lịch và tiến hành chia lấy phần dư (modulus) cho 12. Số còn dư ra sẽ tham chiếu với bảng quy ước Địa Chi:

  • 0 – Tý
  • 1 – Sửu
  • 2 – Dần
  • 3 – Mão
  • 4 – Thìn
  • 5 – Tỵ
  • 6 – Ngọ
  • 7 – Mùi
  • 8 – Thân
  • 9 – Dậu
  • 10 – Tuất
  • 11 – Hợi

Ví dụ thực tế

Năm 1919: Thiên Can là Kỷ vì số cuối là 9; hai số cuối là 19, 19 chia lấy phần dư (modulus) cho 12 còn dư ra 7, như vậy Địa Chi là Mùi. Kết hợp lại ta suy ra năm 1919 là năm Kỷ Mùi.

Năm 1762: Thiên Can là Nhâm vì số cuối là 2; hai số cuối là 62, 62 chia lấy phần dư (modulus) cho 12 còn dư ra 6, như vậy Địa Chi là Ngọ. Kết hợp lại ta suy ra năm 1762 là năm Nhâm Ngọ.

Năm 1428: Thiên Can là Mậu vì số cuối là 8; hai số cuối là 28, 28 chia lấy phần dư (modulus) cho 12 còn dư ra 4, như vậy Địa Chi là Thìn. Kết hợp lại ta suy ra năm 1428 là năm Mậu Thìn.

Năm 1010: Thiên Can là Canh vì số cuối là 0; hai số cuối là 10, 10 chia lấy phần dư (modulus) cho 12 còn dư ra 10, như vậy Địa Chi là Tuất. Kết hợp lại ta suy ra năm 1010 là năm Canh Tuất.

CÁCH TÍNH MẠNG NGŨ HÀNH

Mạng Ngũ Hành (Kim, Thủy, Hỏa, Thổ, Mộc) là kết quả từ sự kết hợp hài hòa của Can – Chi (giống như một phương trình). Ngoài ra mạng Ngũ Hành còn có Âm và Dương (để dễ nhận biết, thì năm chẵn Công lịch luôn là năm Dương, năm lẻ luôn là năm Âm), từ đó mạng Ngũ Hành luôn đi liền nhau 2 năm liên tiếp tạo thành một cặp Dương – Âm.

  • Quy ước chuẩn giá trị của Thiên Can:
    • 1 – Giáp và Ất
    • 2 – Bính và Đinh
    • 3 – Mậu và Kỷ
    • 4 – Canh và Tân
    • 5 – Nhâm và Quý
  • Quy ước chuẩn giá trị của Địa Chi:
    • 0 – Tý và Sửu
    • 1 – Dần và Mão
    • 2 – Thìn và Tỵ
    • 0 – Ngọ và Mùi
    • 1 – Thân và Dậu
    • 2 – Tuất và Hợi
  • Quy ước chuẩn giá trị của Ngũ Hành:
    • 1 – Kim
    • 2 – Thủy
    • 3 – Hỏa
    • 4 – Thổ
    • 5 – Mộc

Công thức tính

Rất đơn giản là bạn chỉ việc cộng giá trị của Thiên Can và Địa Chi lại, rồi lấy số đó tham chiếu với quy ước Ngũ Hành (nếu cộng lại mà lớn hơn 5, thì ta trừ cho 5).

Ví dụ thực tế

Năm 1919: là năm Kỷ Mùi, như vậy mạng Ngũ Hành của người sanh năm này là Hỏa (3+0=3), năm này là năm lẻ nên sẽ là Dương Hỏa

Năm 1762: là năm Nhâm Ngọ, như vậy mạng Ngũ Hành của người sanh năm này là Mộc (5+0=5), năm này là năm chẵn nên sẽ là Âm Mộc

Năm 1428: là năm Mậu Thìn, như vậy mạng Ngũ Hành của người sanh năm này là Mộc (3+2=5), năm này là năm lẻ nên sẽ là Âm Mộc

Năm 1010: là năm Canh Tuất, như vậy mạng Ngũ Hành của người sanh năm này là Kim (4+2-5=1), năm này là năm lẻ nên sẽ là Âm Kim

Phụ lục

Mỗi mạng Ngũ Hành còn có thêm 6 loại khác nhau, tùy theo từng loại mà có những từ Hán Việt tương ứng cho bạn đọc dễ hiểu. Bạn có thể tham khảo lại ở bài https://giapha.org/bang-tinh-nam-am-lich-mang-ngu-hanh-cung-sanh-cung-phi-tu-nam-00012999/ hoặc liên hệ với chúng tôi để giải đáp những thắc mắc.

Previous reading
CÁCH TỰ TÍNH CUNG PHI CỦA NAM/NỮ BẤT KỲ
Next reading
CHÙA PHƯỚC HÒA (XÃ THỚI BÌNH, HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU)